tin tuc

Ứng dụng siêu âm đàn hồi mô trong bệnh lý gan, tuyến giáp, tuyến vú

Chủ nhật - 19/07/2020 09:23
Ứng dụng siêu âm đàn hồi mô trong bệnh lý gan, tuyến giáp, tuyến vú
1. Tổng quan
Hiện nay, các bệnh lý về xơ gan, ung thư gan, các khối u ở tuyến giáp, tuyến vú ngày càng gia tăng. Kỹ thuật siêu âm thường quy phát hiện các bệnh lý trên là có thể, nhưng thường ở giai đoạn muộn. Và việc xác định chính xác bệnh lý cần phải sinh thiết cơ quan làm giải phẫu bệnh (kỹ thuật xâm lấn, gây đau đớn cho người bệnh).
Với sự phát triển của khoa học, hiện nay kỹ thuật siêu âm đàn hồi mô có thể giúp bác sỹ chẩn đoán độ xơ hoá gan, độ cứng của khối u ở tuyến giáp, tuyến vú (khối u càng cứng độ ác tính càng cao).
Siêu âm đàn hồi mô là kỹ thuật siêu âm mới trong ngành siêu âm, giúp xác định độ cứng của cơ quan, của tổn thương. Kỹ thuật được thực hiện như siêu âm thường quy trên máy siêu âm có tính năng siêu âm đàn hồi mô, vì vậy không xâm lấn, không gây đau đớn cho người bệnh. Độ chính xác của kỹ thuật được nghiên cứu đạt ~ 90% so với sinh thiết làm giải phẫu bệnh, giúp giảm thiểu việc sinh thiết cơ quan không đáng có cho người bệnh.
1
2
Hình 1. Hình ảnh trên siêu âm đàn hồi mô
Siêu âm đàn hồi mô là một kỹ thuật siêu âm đánh giá độ cứng của mô thông qua mức độ đàn hồi của mô khi chịu tác động của lực cơ học.
Các mô bệnh lý có thể có cùng độ phản hồi âm, nhưng chúng có độ cứng khác nhau, các mô càng ác tính thì độ cứng càng tăng. Vì vậy khi đánh giá được độ cứng của mô tổn thương sẽ cung cấp thêm thông tin về bản chất của mô đó. Những mô bệnh lý có cùng độ phản âm thì trên hình ảnh siêu âm B mode khó phân biệt tính chất lành tính hay ác tính, siêu âm Doppler có thể hỗ trợ thêm cho nhận định, những khối u ác thường tăng sinh mạch máu nhiều, nhưng nhiều trường hợp sự tăng sinh mạch máu cũng không rõ ràng, vì vậy vẫn khó nhận định tính chất lành tính hay ác tính. Siêu âm đàn hồi mô sẽ giúp bổ sung thêm thông tin về đặc tính của mô tổn thương để làm tăng khả năng chẩn đoán. Siêu âm đàn hồi mô luôn được làm cùng siêu âm B mode, không bao giờ làm siêu âm đàn hồi mô đơn độc.
2. Siêu âm đàn hồi mô được ứng dụng trong các bệnh lý
  • Siêu âm đàn hồi mô tuyến giáp: Chẩn đoán các nốt tuyến giáp. Khi làm siêu âm B mode thấy một tổn thương khu trú, bên cạnh việc nhận định hình thái tổn thương, chúng ta phân loại theo TIRADS để nhận định mức độ lành hay ác tính, thăm dò Doppler để đánh giá tình trạng tưới máu, và làm Elastogram để nhận định độ cứng sẽ cho phép đánh giá tính chất lành tính hay ác tính của tổn thương chính xác hơn và chỉ định sinh thiết chuẩn xác hơn.
  • Siêu âm đàn hồi mô tuyến vú: Chẩn đoán các khối u vú. Một tổn thương tuyến vú trên siêu âm B mode rất khó nhận định, mặc dù có thể căn cứ vào hình thái tổn thương, phân loại BIRADS, Doppler màu để nhận định tình trạng tưới máu, nhưng nhiều trường hợp vẫn không rõ ràng. Elastogram sẽ cung cấp thêm các thông tin có giá trị để xác định tính chất lành tính hay ác tính của tổn thương.
  • Siêu âm đàn hồi mô gan: Xác định mức độ xơ hóa gan trên các đối tượng có yếu tố nguy cơ cao dẫn đến xơ gan hay ung thư gan như: viêm gan virus B, Virus C, gan nhiễm mỡ do rượu, một số bệnh chuyển hóa ảnh hưởng đến gan. Đây là kỹ thuật sử dụng để đánh giá độ cứng của nhu mô gan, độ cứng của gan liên quan đến mức độ xơ hoá. Kết quả có ngay, nó cho thấy tình trạng của gan, cho phép các thầy thuốc chẩn đoán và theo dõi tiến triển của bệnh cùng với tiến trình điều trị. Đây là một kỹ thuật mới có hiệu quả cao trong việc tầm soát và chẩn đoán bệnh xơ gan. Khi làm siêu âm B mode thấy có tổn thương khu trú trong nhu mô gan, căn cứ vào tính chất phản âm đồng nhất hay không đồng nhất, bờ của tổn thương có ranh giới rõ hay không rõ, đều hay không đều, dày hay mỏng… cho phép nhận định sơ bộ bản chất của tổn thương. Dùng siêu âm Doppler cho phép nhận định mức độ tưới máu của tổn thương, nếu tăng tưới máu thường là u ác. Dùng siêu âm đàn hồi mô xác định độ cứng, nếu là score 4 thì là u ác tính, nếu là score 1 thì là tổn thương lành tính, nếu là score 2,3 thì là nghi ngờ, cần căn cứ thêm các yếu tố khác: nếu có tăng tưới máu thì nghiêng về u ác, nếu không tăng tưới máu, diện tích trên Elastogram không lớn hơn diện tích trên B mode thì cần xác định thêm bằng sinh thiết.
  • Một số chỉ định khác: Siêu âm đàn hồi mô lách, tụy, thận & tuyến tiền liệt…
3. Ưu điểm của siêu âm đàn hồi mô
  • Nếu như siêu âm Doppler được coi là bước ngoặt thứ nhất thì siêu âm đàn hồi mô được coi như một bước ngoặt thứ hai trong ngành siêu âm, nó cho phép đánh giá độ cứng của mô, cho phép đánh giá tính chất của mô tổn thương.
  • Nâng độ đặc hiệu của chẩn đoán, giúp cho thu hẹp chỉ định sinh thiết mà không bỏ sót tổn thương.
  • Siêu âm đàn hồi gan giúp đánh giá độ xơ hoá gan không xâm lấn, có độ chính xác cao, dễ thực hiện.
  • Siêu âm đàn hồi tuyến vú giúp chẩn đoán chính xác hơn, tránh bỏ sót K vú, giảm sinh thiết không cần thiết, chỉ điểm vị trí sinh thiết u tuyến vú, giúp làm giảm sinh thiết và tránh bỏ sót tổn thương ác tính, giúp tăng độ chính xác trong chẩn đoán u tuyến vú. Siêu âm đàn hồi nhân giáp giúp chẩn đoán chính xác hơn, tránh bỏ sót ung thư tuyến giáp, giảm sinh thiết không cần thiết và chỉ điểm chính xác vị trí sinh thiết nhân giáp.
  • Dễ thực hiện, ít phụ thuộc người làm.
  • Tiêu chuẩn tham khảo đáng tin cậy (AUROC = 0,731) giúp cân nhắc thực hiện FNA và chọn vị trí tối ưu để lấy tế bào.
Siêu âm đàn hồi mô mới được manh nha vào những năm 1991, phát triển trong khoảng 10 năm nay và phát triển mạnh trong khoảng 5 năm nay. Hiện nay ở Việt Nam, nhiều bệnh viện đã trang bị máy siêu âm đàn hồi mô. Và bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị đã trang bị máy siêu âm Siement Acuson S2000, có tính năng siêu âm đàn hồi mô, giúp hỗ trợ trong chẩn đoán các bệnh lý của gan, tuyến giáp, tuyến vú.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Hà Hoàng Kiệm. Siêu âm đàn hồi mô (Elastogram). http://hahoangkiem.com/can-lam-sang/sieu-am-dan-hoi-mo-elastogram-3637.html
    2. Nguyễn Phước Bảo Quân. Siêu âm đàn hồi: nguyên lý, kỹ thuật và ứng dụng lâm sàng. http://sieuamvietnam.vn/sieu-dan-hoi-nguyen-ly-ky-thuat-va-ung-dung-lam-sang/
    3. Nguyễn Thiện Hùng. Siêu âm đàn hồi và ứng dụng lâm sàng. https://www.slideshare.net/hungnguyenthien/siu-m-n-hi-v-ng-dng-lm-sng-45375546
    4. Lê Thanh Liêm. Elastography – Siêu âm đàn hồi – Xu hướng của thời đại.
    5. Lê Hồng Cúc. Siêu âm đàn hồi phần mềm: Vú, Giáp, Hạch – Vai trò và giới hạn của kỹ thuật.

Tác giả bài viết: BS. Hoàng Thị Hương - Khoa Chẩn đoán hình ảnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây